Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch ở trẻ sơ sinh

13 lượt xem

 

ĐẠI CƯƠNG

Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch là dùng đường tĩnh mạch để đưa các chất dinh dưỡng vào nuôi dưỡng có thể, thay cho việc nuôi dưỡng bằng đường tiêu hóa. Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch đòi hỏi phải tỉ mỉ, có kĩ thuật và tốn kém, vì vậy chỉ nên thực hiện ở những trung tâm y tế có điều kiện. Phải cân nhắc kĩ trước khi chỉ định.

CHỈ ĐỊNH

® Những bệnh nhân không nuôi dưỡng bằng đường tiêu hóa được sau những phẫu thuật đường tiêu hóa (teo thực quản, teo ruột, w.), những bệnh nhân có bệnh tại đường tiêu hóa như viêm ruột hoại thư.

® Những bệnh nhân bị nhiễm khuẩn nặng, không ăn được do nôn nhiều hoặc ăn không đủ lượng.

THÀNH PHẦN NUÔI DƯỠNG (Tính theo kg thể trọng trong 1 ngày)

Protid 2,5-3 g
Glucid 25 – 30 g
Lịpid 2-2,5 g
Natri 3 – 4mEq
Kali .2 – 3mEq
Canxi 0,5mEq
Magie 0,25mEq

Nếu nuôi qúa 10 ngày, hàng tuần cần cho thêm:

Acid folic                                          lmg/1 tuần

Vitamin B12                                    100mcg/l tuần, tiêm bắp

Vitamin D                                            100 đơn vị/1 tuần, tiêm bắp

Vỉtamin K                                            lmg/1 tuần, tiêm bắp

CÁCH TÍNH NHU CẦU NUÔI DƯỠNG

  1. Lượng dịch truyền phụ thuộc vào trọng lượng và ngày tuổi của bệnh nhân (Tính theo kg thể trọng trong 1 ngày)

Ngày thứ nhất (sau đẻ)                                             70ml

Ngày thứ hai                                                                 90-100ml

Ngày thứ ba                                                               100-120ml

Ngày thứ tư                                                               150-200ml

Số lượng trên thay đổi tùy theo tình trạng bệnh lí của trẻ, nhưng không qúa 200ml/kg/24 giờ.

Tăng 10-30% lượng dịch khi trẻ nôn nhiều, ỉa chảy nặng hoặc chiếu đèn.

Giảm 10-30 lượng dịch nếu trẻ khi đẻ bị phù, suy tim, viêm phổi; liều tối đa 120ml/kg/ngày.

Thời gian truyền nhỏ giọt chậm 3-6 giọt/phút. Nên chia lượng dịch ra làm 2 phần để phân bố dịch truyền trong cả ngày đêm nhằm tránh tình trạng hạ đường huyết.

Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch ở trẻ: Ảnh minh họa

Nuôi dưỡng đường tĩnh mạch ở trẻ: Ảnh minh họa

  1. Nhu cầu năng lượng

Trung bình 120-130 KCal/kg/ngày, trong 1-2 ngày đầu sau đẻ nhu cầu có thể thấp hơn. Trên thực tế, nếu không đủ thành phần nuôi dưỡng thì không thể đáp ứng đủ số calo theo nhu cầu trên. Vì vậy, cần kịp thời cho ăn trở lại nếu điều kiện lâm sàng cho phép.

>>> Xem thêm: 2 món ăn không thể bỏ quên nâng cao bản lĩnh đàn ông

  1. Thành phần nuôi dưỡng
  • Khi có đủ thành phần nuôi dưỡng thì tính theo tỉ lệ:

1/6 intralipid.

2/6 acid amin.

3/6 glucoza hoặc dextroza.

  • Khi không đủ thành phần nuôi dưỡng (thiếu intralipid) thì tính theo tỉ lệ:

1/5 acid amin.

4/5 glucoza (hoặc dextroza).

Chú ý: Để tránh tình trạng tăng amoniac máu và đái ra acid amin thì tỉ lệ calo đạm và calo không đạm bằng 1/8-1/10.

  1. Điện giải

Khi không có điện giải đồ, dùng huyết thanh mặn 0,9%, 10-20ml/kg/ngày, Clorua kali 10% l-2ml/kg/ngày (phải hòa trong một dung dịch với tỉ lệ lOOml dịch có lml Clorua kali 10%) để nhỏ giọt chậm.

Khi có điện giải do: Tính theo công thức

Na(mEq) = (142 -X) X p X 0,3

Trong đó X: lượng natri của bệnh nhân; P: Trọng lượng bệnh nhân.

Kali (mEq) mâu:

Nếu K =  2,5 mEq thì bù 4 mEq/kg/24 giờ

3mEq thì bù 3mEq/kg/24 giờ 3,5mEq thì bù 2mEq/kg/24 giờ.

Số điện giải trên hòa trong dung dịch truyền nhỏ giọt tĩnh mạch chậm.

ÁP DỤNG TRONG ĐIỀU TRỊ

Glucoza: Nồng độ lúc đầu chỉ nên cho 10-12%, tăng dần trong những ngày sau, không nên cho qúa 15%.

Protein cho tăng dần, những ngày đầu chỉ nên cho 50-60% nhu cầu rồi tăng lên dần.

Lipid: Intralipid 10% hoặc 20%, thường dùng loại 20% cho liều tăng dần bắt đầu từ 3ml, tăng dần lên 15ml/ngày.

Trong điều trị, các dung dịch mỡ cho nhiều calo nhưng có thể gây tắc nghẽn mạch hay những biến chứng khác, vì vậy cần lưu ý:

-Không để dịch truyền lâu qúa 3 giờ, do đó intralipid cần được truyền riêng một đường, không dùng khi tăng lipid máu, biểu hiện huyết tương bệnh nhân đục.

-Không dùng khi có vàng da nếu đang dùng mà có vàng da thì phải dừng lại.

– Đường đưa vào cơ thể: Đường tĩnh mạch ngoại biên, nếu dùng tĩnh mạch rốn không để lâu qúa 24 giờ.

Ví dụ cụ thể: Một bệnh nhân nuôi đường tĩnh mạch nặng 3.000g, ngày thứ 4 sau đẻ, cách nuôi sẽ tính như sau:

Tổng lượng dịch: 450ml (150ml X 3 = 450ml).

Alvesin                                                           80ml

Glucoza 10%                                                350ml

  • Glucoza 30% 20ml

Clorua natri                                                                     10%  5ml

Clorua kali                                                                       10%  5ml

Nồng độ đường 11% (trong tổng lượng dịch).

Như vậy, trẻ được nuôi: 70 KCal/kg/24 giờ. (100ml Alvesin có 10g đường, 6g đạm).

Theo dõi hàng ngày và hàng tuần Hàng ngày:

  • Đường niệu.
  • Đường máu.
  • Điện giải đồ.
  • Cân nặng hàng ngày.
  • Nhiệt độ sáng, chiều.
  • Lượng nước ra (nước tiểu, phân, chất nôn).
  • Lượng nước vào.

Hàng tuần:

  • Công thức máu.
  • Canxi máu.
  • Bilirubin (nếu có vàng da).